
Thứ nhất thì ngắm
Thiên Thần truyền tin cho Đức Bà chịu thai
(Lc 1, 26-38)
Điểm 1. Nhà của Đức Mẹ
Vị trí của Đức Maria thật là lớn lao và duy nhất trong tương quan với Thiên Chúa và loài người chúng ta : Đức Maria là Mẹ Giáo Hội, trong đó có chúng ta, và Đức Maria cũng là Mẹ Thiên Chúa. Tuy nhiên, tất cả những ơn huệ lớn lao của Mẹ đã bắt đầu bằng một biến cố thật hạn hẹp, thật nhỏ bé, thật khiêm tốn, thật âm thầm và kín ẩn, đó là biến cố Truyền Tin. Nhỏ bé và âm thầm, nhưng đó chính là một kinh nghiệm thiêng liêng làm thay đổi cuộc đời của Đức Maria, và của lịch sử cứu độ. Và kinh nghiệm thiêng liêng này là một cuộc đối thoại, đối thoại giữa Đức Maria và sứ thần Gabriel.
Trước hết, chúng ta cần chú ý đến nơi chốn xẩy ra biến cố Truyền Tin, đó là nhà của Đức Maria : « Sứ thần vào nhà trinh nữ » (Lc 1, 28). Khi cầu ngyện với Lời Chúa, theo sách Linh Thao, chúng ta luôn chọn một nơi chốn được nói tới trong bản văn TM : nhà, vườn, sa mạc, đồi Calvê… Có hai mục đích cho việc chọn nơi chốn trong cầu nguyện :
Ø Khi cầu nguyện, chúng ta được mời gọi dấn thân cả con người của chúng ta, bên trong cũng như bên ngoài. Thế mà, bên trong của chúng ta, có nhiều thứ, trong đó có trí tưởng tượng. Dùng trí tưởng tượng để hình dung ra một nơi chốn khi cầu nguyện, đó là giúp chúng ta cầu nguyện với cả con người, đồng thời giúp định hướng cho trí tưởng tượng, vốn hay dẫn chúng ta đi lang lang, ra khỏi việc cầu nguyện. Hơn nữa, nơi chốn mà chúng ta hình dung ra, không phải là bất cứ nơi nào, nhưng đó là nơi « thánh », nghĩa là nơi được Chúa viếng thăm.
Ø Vì thế, một nơi chốn cụ thể còn có một ý nghĩa thiêng liêng : Thiên Chúa đến gặp gỡ con người không phải ở trên trời cao hay ở một nơi xa vời, nhưng tại một nơi chốn cụ thể và rất đời thường, chẳng hạn nhà của Đức Maria; và đối với chúng ta cũng vậy, đó có thể là một nơi nào đó trong cuộc đời của chúng ta : trường học, nơi hành hương, nhà tĩnh tâm, trong vườn của Nhà Dòng, trong căn phòng nhỏ bé, hay nơi nhà nguyện… Vậy đâu là nơi chốn, ở đó chúng ta được TC viếng thăm, đã làm thay đổi cuộc đời chúng ta, như trường hợp của Đức Mẹ đây ?
Điểm 2. Chúa đến (v. 26-27)
Trình thuật Truyền Tin có thể được gói gọn trong tiếng «Xin Vâng» của Đức Mẹ ; và chúng ta thường hiểu tiếng «Xin Vâng» là câu trả lời tức khắc của Mẹ khi nghe lời đề nghị của TC, qua trung gian của sứ thần Gabriel. Tuy nhiên, nếu chúng ta đặt lời «Xin Vâng» của Mẹ vào trong diễn tiến của trình thuật TM, chúng ta sẽ nhận ra rằng, tiếng «Xin Vâng» của Mẹ là điểm tới của cả một cuộc trao đổi khá dài, và nhất là đầy biến động trong tâm hồn.
Trước hết, chúng ta hãy tự hỏi Đức Maria là ai ? Mẹ là một thiếu nữ Israel, ngụ tại Galilê, làng Nazarét. Mẹ là một thiếu nữ đã đính hôn, như bao thiếu nữ khác khi đến tuổi trưởng thành. Một cách chính xác, Mẹ đã đính hôn với một người tên là Giuse, thuộc dòng dõi Đavít. Như thế, lúc ban đầu, Mẹ là một cô gái như bao cô gái khác. Và có lẽ chúng ta cũng đã như vậy trước khi bước vào đời tu : một cô gái với thân phận bình thường, và với ước mơ về đời mình cũng thật bình thường. Nhưng Mẹ lại không được vậy, vì, có thể nói, Chúa đến làm xáo trộn cuộc đời của Mẹ.
Ở đây chúng ta có thể nhìn lại hành trình ơn gọi của mình và tự hỏi : đâu là những dấu chỉ, những cách thức Chúa dùng để làm xáo trộn cuộc đời chúng ta, làm cho chúng ta không thể sống như những cô gái bình thường ? Và trong trình thuật Truyền Tin, Chúa không đến trực tiếp, nhưng qua trung gian sứ thần Gabriel ; vậy đâu là những người « trung gian » của Chúa trong cuộc đời và nhất là hành trình ơn gọi của chúng ta ?
Điểm 3. Sứ thần Gabriel và Đức Maria : Nhịp 1 và 2
Cuộc đối thoại giữa Sứ Thần và Đức Maria được «đóng khung», nghĩa là khởi đầu và kết thúc, bởi chuyển động vào và ra của sứ thần : «Sứ Thần vào nhà trinh nữ» (c. 28), và sau đó, «Rồi Sứ Thần từ biệt ra đi » (c. 38). Cuộc đối thoại có thể chia làm ba nhịp. Chúng ta hãy lắng nghe từng nhịp, nhưng không quên nhìn ngắm và quan sát cung cách đối thoại của Đức Mẹ, vốn diễn tả những tâm tình nội tâm, chẳng hạn sự bối rối lúc ban đầu.
Nhịp thứ nhất (c. 28-29)
Sứ Thần ngỏ lời với Đức Maria : «Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà». Trong nhịp thứ nhất này, Đức Mẹ không đáp lời, nhưng rất bối rối, và tự hỏi lời chào như vậy có nghĩa gì.
Lời chào của sứ thần dành cho Đức Maria trở thành lời chào của chúng ta, vì Kinh Kính Mừng hằng ngày của chúng ta, của cả GH bắt đầu bằng lời chào này : «Kính Mừng Maria đầy ơn phúc, Đức Chúa Trời ở cùng bà». Nhưng ở ngọn nguồn, lời chào này làm cho Đức Maria rất bối rối. Chúng ta hãy hình dung ra Đức Maria đang trong trạng thái bối rối. Có người giải thích, Đức Mẹ bối rối, đó là vì đột nhiên có người thanh niên tuấn tú xuất hiện trong nhà Đúc Mẹ. Nhưng chắc chắn đây không phải là điều tác giả TM muốn nói, bởi vì Đức Mẹ tự hỏi lời chào như vậy có nghĩa gì. Như thế, điều làm Mẹ bối rối chính là nội dung của lời chào, công bố ơn huệ TC dành cho Mẹ thật bất ngờ và nhưng không.
Có lẽ chúng ta cũng vậy, khi Chúa đến ngỏ lời với chúng ta, một lúc nào đó trong quá khứ và nhất là trong những biến cố quan trọng của hành trình ơn gọi : chúng ta cũng bối rối và tự hỏi : tại sao Chúa lại chọn con, tại sao Chúa ưu ái với con cách nhưng không như vậy ? Chúa mời gọi con làm gì ?
Nhịp thứ hai (c. 30-34)
Sứ thần xác chuẩn ơn huệ nhưng không Chúa ban cho Mẹ : « Bà được đẹp lòng Thiên Chúa », và sau đó, loan báo sứ mạng mà TC muốn trao cho Mẹ : « Này đây bà sẽ thụ thai… ». Như thế, ơn huệ luôn đi đôi với sứ mạng ; và đó chính là cung cách hành xử của TC trong lịch sử cứu độ, trong lịch sử Hội Dòng và trong hành trình ơn gọi của mỗi người chúng ta.
Sứ mạng thụ thai, hạ sinh con trai, vốn là « Con Đấng Tối Cao », là sứ mạng quá lớn, lớn hơn tất cả những gì Mẹ có và Mẹ là. Vì thế, Mẹ không thể không nêu câu hỏi, và câu hỏi của Mẹ chất chứa một ngăn trở, cũng rất lớn : "Việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng?" Chính ở nhịp thứ hai này của cuộc đối thoại, mà chúng ta cảm nhận được Đức Mẹ thật sống động, thật mạnh mẽ và cũng thật lý sự nữa. Mẹ cũng thật gần gũi với chúng ta, vì can đảm đặt câu hỏi, nêu ra khó khăn và trở ngại đối với lời mởi gọi của TC. Chúng ta cũng được Chúa ban ơn huệ để thi hành sứ mạng, một sứ mạng be bé, nhưng chúng ta cũng đã và còn sẽ nêu ra rất nhiều khó khăn và trở ngại.
Còn có một điều bất ngờ lớn lao nữa, mà chắc chắn lúc này, Mẹ chưa hình dung ra hết được, bởi vì Mẹ sẽ phải khám phá ra từ từ, đó là cách Đức Giê-su trở nên cao cả, trở nên Con Đấng Tối cao, và nhất là cách Ngài thừa kế ngai vàng vua Đa-vít. Biến cố Đức Giêsu giáng sinh trong máng cỏ, việc dâng Hài Nhi cho Đức Chúa trong Đền Thờ và nhất là lời tiên tri của ông cụ Simeon : «Một lưỡi gươn sẽ đâm thâu tâm hồn bà», sẽ hướng Mẹ tới con đường Thập Giá của Con Mẹ.
Điểm 4. Sứ thần Gabriel và Đức Maria : Nhịp thứ 3 (c. 35-37)
Sứ thần rất coi trọng ngăn trở mà Đức Mẹ nêu ra ; vì thế, để thuyết phục, ngài đã không dựa vào điều gì khác, ngoài quyền năng riêng của TC. Chúng ta hãy dừng lại thật lâu để suy niệm từng lời của sứ thần. Vì lời của sứ thần rất thuyết phục, thuyết phục đến độ Đức Maria đã thốt ra lời «Xin Vâng» liều lĩnh, ẩn chứa rất nhiều thách đố, nguy nan và những điều bất ngờ.
Trước hết, theo lời của Sứ Thần, Người Con Mẹ sẽ cưu mang và sinh ra, là hoàn toàn do quyền năng của Thiên Chúa và thuộc về Thiên Chúa : «Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, …». Làm phát sinh sự sống, ở nơi mà loài người không thể làm gì được, đó chính là quyền năng sáng tạo của TC. Và đời tu của chúng ta là như thế đó, chúng ta sống đời dâng hiến, chính là để TC làm phát sinh sự sống từ cung lòng và cuộc đời trinh nguyên của chúng ta. Và Đức Mẹ sẽ rất mau kinh nghiệm được quyền năng sáng tạo của TC nơi con người cụ thể của mình, bởi vì sau đó Mẹ sẽ ca mừng : «Đấng toàn năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả».
Vẫn chưa hết, Sứ Thần con nêu ra một tuyệt tác khác của TC, đó là trường hợp bà chị Elisabeth : « Kìa bà Elizabet… ». Như thế, Thiên Chúa có khả năng làm phát sinh sự sống ở nơi mà con người không còn hi vọng gì và không thể làm gì được nữa, bởi vì hai ông bà vừa hiềm muốn và vừa lớn tuổi. Và tuyệt tác này lại nhắc nhớ những tuyệt tác tương tự khác trong lịch sử cứu độ, đó là trường hợp các phu nhân hiếm muộn của các tổ phụ, mà vẫn cứ sinh con được, và tiêu biểu nhất là bà Sara, vợ của tổ phụ Abraham. Với Đức Maria, đó cũng là một tuyệt tác, nhưng là một tuyệt tác còn lớn hơn và là duy nhất: Mẹ sinh con không phải từ cung lòng già cỗi hay hiếm muộn, nhưng là từ cung lòng trinh nguyên. Các Giáo Phụ nhìn ra đây là hình ảnh diễn tả công trình sáng tạo của TC, bởi vì lúc khởi đầu, TC cũng làm phát sinh sự sống từ mặt đất trinh nguyên. Đó là vì, đối với TC, không có gì là không thể làm được.
Và đây đã là Tin Mừng cho loài người của chúng ta rồi : đó là Thiên Chúa có thể làm phát sinh sự sống, và làm phát sinh sự sống viên mãn là Đức Kitô, ở nơi mà con người không còn hi vọng gì, ở nơi là tuyệt đối không thể đối với con người. Như thế mầu nhiệm Vượt Qua đã được loan báo ở đây rồi, nơi biến cố truyền tin, bởi vì TC sẽ làm trào vọt sự sống từ sự chết, trong mầu nghiệm Thương Khó và Phục Sinh của Đức Ki-tô. Và biến cố Truyền Tin cũng bày tỏ cho chúng ta yếu tính của đời tu: đó là để cho Thiên Chúa làm phát sinh sự sống thần linh của Người, theo hình ảnh của ĐKT, ở nơi không thể, là thân xác trinh nguyên của chúng ta; theo cách thức mà Thiên Chúa đã thực hiện nơi Đức Maria. Và công trình kì diệu này cũng phải khởi đi từ một kinh nghiệm thiêng liêng, đó là cuộc đối thoại giữa chúng ta và Thiên Chúa, để có thể đạt tới lời «Xin Vâng » trong tự do, như Đức Maria, Mẹ của chúng ta.
Điểm 5. Lời «Xin vâng» (c. 38)
Trong bản văn Hi-lạp của trình thuật Truyền Tin, thật ra không có từ « xin vâng », hay từ « vâng » trong bản dịch Tiếng Việt ở đây, nhưng chỉ có câu trả lời của Đức Mẹ : « Tôi đây là nữ từ của Chúa, xin Người thực hiện cho tôi như lời sứ thần nói » hay dịch sát hơn : « Tôi đây là nữ tì của Chúa, hãy xảy ra cho tôi theo như lời Sứ Thần ». Ngoài ra, « Xin Vâng » còn được đọc theo tiếng La-tinh là « Fiat » ; nhưng thực ra, « Fiat » có nghĩa là « ước gì xẩy ra cho tôi », hoặc « hãy xẩy ra cho tôi » theo như lời của ngài. Vì thế, chúng ta vẫn cứ tiếp tục nói Đức Mẹ thưa « Xin Vâng », nhưng phải hiểu tiếng « Xin Vâng » của Mẹ là cả một câu trả lời khá dài và đầy ý nghĩa.
Thật vậy, trong lời « Xin Vâng », Mẹ tự xưng mình là « nữ tì ». Chúng ta thường nghĩ ra nhiều tước hiệu cao vời dành cho Đức Maria ; nhưng Mẹ lại thích tự xưng mình, trong biến cố Truyền Tin và trong bài ca bất hủ Magnificat, là « Nữ Tì của Chúa » (Lc 1, 38), là « Phận nữ tì hèn mọn ». Chúng ta được mời gọi dõi theo một Đức Maria như thế đó. Không ở đâu ngoài lời nói này của Mẹ, chúng ta cảm thấy thật gần gũi với Mẹ. Vì chúng ta cũng như Mẹ, là nữ tì, là tôi tớ của Thiên Chúa.
Sau đó, Mẹ nói « Hãy xảy ra cho tôi theo như lời của Sứ Thần nói ». Chúng ta hãy cảm nếm lòng tín thác tuyệt đối Mẹ dành cho Chúa qua lời nói này, bởi vì qua lời này, Mẹ cam kết từ bỏ quyền làm chủ đời mình; và đó chính là ý nghĩa tận cùng của đời tu, được diễn tả qua ba lời khấn. Như thế, chúng ta được mời gọi đặt lời «xin vâng» của chúng ta, được diễn tả qua ba lời khấn, trong lời «Xin Vâng» của Đức Mẹ. Cũng giống như Đức Mẹ, tiếng xin vâng ban đầu của chúng ta cần phải làm mới lại suốt đời, nhất là ở những khúc quanh quan trọng : lúc vào nhà tập, lúc khấn tạm, khấn trọn, tĩnh tâm hằng tháng, tĩnh tâm hàng năm, hay ở những lúc khó khăn thử thách lớn nhỏ trong hành trình ơn gọi. Trong những giai đoạn khó khăn thử thách lớn, có khi chúng ta được mời gọi thưa «xin vâng» mỗi ngày, bằng cách nhận lời «Xin Vâng» của Mẹ làm của mình, và lời «Xin Vân» này có nghĩa là : «Con là nữ tì của Chúa, xin xảy ra cho con theo như Lời của Ngài».
Xin Đức Mẹ Mân Côi đồng hành và phù hộ chúng ta với tình yêu hiền mẫu, để chúng ta cũng sống đến cùng lời « xin vâng » của chúng ta, giống như Mẹ.
Giuse Nguyễn Văn Lộc


